NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

HỖN HỢP 17 AXIT AMIN TỰ DO CẢI THIỆN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ RÔ PHI

6/8/2022 - 11:26 AM
Không chỉ đạt hiệu quả cao trong nuôi tôm, hỗn hợp các axit amin tự do Kera-Stim 50 cũng cho những kết quả tích cực đối với cá rô phi giai đoạn còn non.

Thử nghiệm

Dựa trên những hiệu quả tích cực của Kera-Stim 50 trong ngành nuôi tôm, các nhà nghiên cứu tại BCF Life Science đã hợp tác với Đại học Mahasarakham tại Thái Lan để đánh giá thêm về hiệu lực của axit amin tự do (MFAA) lên hiệu suất nuôi cá rô phi. Thử nghiệm sử dụng 450 cá rô phi non và khỏe mạnh, trọng lượng thân ban đầu 4,7 g (IBM) và phân bố vào 15 lồng nuôi ở mật độ 30 con/lồng và lặp lại nghiệm thức 3 lần. Cá rô phi được cho ăn bằng 5 khẩu phần: đối chứng, đối chứng +0,25% MFAA, đối chứng +0,50% MFAA, đối chứng +0,75% MFAA và đối chứng +1% MFAA. Sau 8 tuần thử nghiệm, MFAA đã tác động tích cực đến hàng loạt thông số đánh giá hiệu quả nuôi cá rô phi (Wangkahart et al, 2022). Cụ thể, làm tăng các thông số tăng trưởng, trọng lượng thân cuối (FBW) và giảm FCR, chỉ số sử dụng protein, chỉ số nội tạng (VSI) và sản lượng nuôi. Bổ sung MFAA cũng tác động tích cực đến thành phần và màu sắc thịt cá.

Công thức thức ăn chất lượng cao gồm 32% protein; 4,2% chất béo; 2,8% chất xơ; 9,7% tro và được sử dụng như khẩu phần cơ bản. Bổ sung Kera-Stim 50 theo 4 nồng độ khác nhau: 2,5 g/kg thức ăn - 0,25%; 5 g/kg thức ăn - 0,50%; 7,5 g/kg thức ăn - 0,75% và 10 g/kg thức ăn - 1%. MFAA được đưa vào hỗn hợp thức ăn trước khi ép viên. Cho cá ăn 2 lần/ngày đến khi no vào 8h và 16h. Tỷ lệ cho ăn 5% sinh khối và được điều chỉnh 2 tuần/lần theo tăng trưởng của cá.

Các thông số đánh giá

Chỉ số sử dụng thức ăn và điều kiện cơ thể

Đo lại các thông số tăng trưởng gồm trọng lượng cuối, tăng trọng (WG), tốc độ tăng trưởng riêng (SGR) và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Ngoài ra, cũng đánh giá thêm chỉ số sử dụng protein (PER) và chỉ số nội tạng (VSI).

Hoạt tính enzyme tiêu hóa

Hoạt tính của amylase được đo theo phương pháp Nater et al (2006); hoạt tính của enzyme protease được xác định bằng phương pháp Ivergen and Jogensen (1995). Hoạt tính của lipase được xác định bằng phương pháp Penceac’h and Baratti (1996).

Phân tích thành phần thịt cá và màu sắc

Cuối thử nghiệm, lấy mẫu ngẫu nhiên 45 con cá và thêm 9 con nữa (3 cá/bể x 3 bể/nhóm) từ các nhóm đối chứng và tất cả các nhóm bổ sung MFAA. Những con cá này được lọc fillet xẻ cánh bướm và đo màu sắc của phần thịt bằng máy đo màu sắc CR400 chroma (Minolta, Nhật Bản) có chỉ số màu đỏ, vàng và trắng nhạt (L).

 

Kết quả

Tăng trọng của cá tăng đáng kể cho thấy hiệu suất nuôi đã được cải thiện khi cho cá rô phi ăn bổ sung MFAA. Chính xác hơn, MFAA 1% (tương đương 10 kg/tấn thức ăn) cho kết quả tốt nhất về cải thiện trọng lượng cuối (+28,9%), WG (31,5%), SGR (8,9%) và giảm FCR 24% sau 8 tuần.

Ngoài ra, hiệu quả sử dụng thức ăn và các chỉ số điều kiện cơ thể đã chứng minh hiệu quả tích cực của MFAA về tăng trọng, hiệu suất nuôi và giảm chỉ số VSI. Tất cả các nghiệm thức MFAA đều cải thiện đáng kể những thông số này. MFAA ở 1% (10 kg/tấn thức ăn) đã cải thiện PER 29,2% và sản lượng 9,3%, giảm VSI 19,5%. Những thông số này được cải thiện nhờ khả năng sử dụng thức ăn được nâng cao và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn để đảm bảo chất béo ít tích tụ ở nội tạng hơn.

Hoạt tính của những enzyme tiêu hóa: amylase, lipase và protease lần lượt tăng 34,9%, 10,4% và 9,9% ở các nghiệm thức bổ sung 0,75% và 1% MFAA nhờ khả năng sử dụng thức ăn đã được cải thiện.

Phân tích thành phần thịt cá cho thấy, ảnh hưởng tích cực của MFAA khi làm tăng thành phần chất béo trong thịt (+88% chất béo với 0,75% MFAA). Theo những quan sát này, màu sắc của thịt cá được đo ở các vùng bụng và sống lưng cũng bị ảnh hưởng đáng kể bởi giá trị L cao hơn (lần lượt là +13,7% và +7,2% cho giá trị L của fillet vùng bụng và vùng lưng).

Kết luận

Nghiên cứu đã nhấn mạnh hiệu quả đáng chú ý của MFAA khi được bổ sung vào thức ăn cho cá rô phi non. Đầu tiên, về thông số tăng trưởng với hiệu quả tích cực lên sinh khối và sử dụng thức ăn. Thú vị là sự cải thiện rõ rệt về điều kiện cơ thể, như VSI, thành phần và màu sắc thịt cũng được ghi nhận. Toàn bộ những kết quả này cho thấy, thức ăn đã được tiêu hóa tốt hơn và sử dụng năng lượng bởi hệ tiêu hóa cũng hiệu quả hơn. Ngoài ra, màu sắc cá cũng được cải thiện khi ôxy hóa chất béo giảm.

Giảm VSI liên quan đến hoạt tính của enzyme amylase tăng sau khi thức ăn được tiêu hóa tốt hơn để giảm tích tụ chất béo trong nội tạng và tăng lượng chất béo trong thịt cá. Những hiệu lực mạnh mẽ của Kera-Stim 50 lên khả năng cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn, hiệu suất nuôi và chất lượng cá đã được ghi nhận. Hỗn hợp axit amin tự do từ nguồn lông vũ gia cầm thủy phân cũng được công nhận là thành phần thức ăn thủy sản hiệu quả và bền vững.

Dũng Nguyên

Theo Aquafeed.