KẾT QUẢ CHÍNH CỦA SẢN XUẤT CHĂN NUÔI VÀ TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2023

8/8/2023 - 4:42 PM
Trong 6 tháng đầu năm 2023, chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định, nhưng dịch bệnh còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng phát, nguy cơ các chủng virus cúm và dịch bệnh khác xâm nhiễm từ nước ngoài; giá thức ăn chăn nuôi vẫn cao, tình trạng nhập lậu sản phẩm chăn nuôi; trong khi đó, giá các loại sản phẩm chăn nuôi nhất là thịt lợn hơi đã tăng trở lại.

1. Phát triển đàn vật nuôi

 

Trong 6 tháng đầu năm 2023, chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định, nhưng dịch bệnh còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng phát, nguy cơ các chủng virus cúm và dịch bệnh khác xâm nhiễm từ nước ngoài; giá thức ăn chăn nuôi vẫn cao, tình trạng nhập lậu sản phẩm chăn nuôi; trong khi đó, giá các loại sản phẩm chăn nuôi nhất là thịt lợn hơi đã tăng trở lại. Theo số liệu ước tính của TCTK, thời điểm cuối tháng 6/2023, so với cùng kỳ năm 2022:

 

– Chăn nuôi trâu, bò: đàn trâu ước giảm 1,7%, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 61,2 nghìn tấn, giảm 0,9%; đàn bò ước tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2022, sản lượng thịt bò ước đạt 245,3 nghìn tấn tăng gần 2,6% so với cùng kỳ; sản lượng sữa 662,8 triệu lít tăng 8,4%.

 

Tăng trưởng đàn bò qua các tháng so với cùng kỳ năm trước

 

 

 

– Chăn nuôi lợn: đàn lợn ước tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2022. Tổng sản lượng thịt lợn 6 tháng đầu năm ước đạt 2.326 nghìn tấn tăng 6,5% so với cùng kỳ.

 

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê T.6/2023

 

– Chăn nuôi gia cầm: đàn gia cầm ước tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2022. Sản lượng thịt gia cầm 6 tháng đạt 1.042 nghìn tấn tăng 4,8%; trứng 9,096 tỷ quả tăng 4,2% so với cùng kỳ.

 

Tăng trưởng đàn gia cầm qua các tháng so với cùng kỳ năm trước

 

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê T.6/2023

 

 

Tốc độ tăng số lượng gia súc, gia cầm thời điểm cuối tháng 6/2023

 

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê T.6/2023

 

Một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu trong Quý II năm 2023

 

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê T.6/2023

 

2. Sản xuất thức ăn chăn nuôi: Sản lượng thức ăn hỗn hợp sản xuất trong nước 6 tháng đầu năm 2023 đạt khoảng 9,87 triệu tấn (giảm khoảng 1,5% so với cùng kỳ năm 2022)[1].

 

3. Thị trường sản phẩm chăn nuôi

 

a) Giá lợn thịt hơi xuất chuồng

 

Giá thịt lợn hơi xuất chuồng trong tháng 01, 02/2023 dao động trung bình 51.000 – 52.000 đồng/kg, giá bắt đầu giảm từ tháng 3 (trung bình còn 49.000 đồng/kg), tăng trở lại từ cuối tháng 4, sang tháng 5/2023 giá trung bình là 55.300 đồng/kg; giá lợn hơi trung bình tháng 6/2023 đạt 59.000 đồng/kg và hiện nay đang dao động trung bình quanh mức 61.000 đồng/kg[2]; giá sản phẩm thấp hơn giá thành sản xuất từ tháng 01 đến tháng 5/2023 đã tác động đến tốc độ tăng trưởng số lượng đàn lợn của cả nước (giảm từ 10,4% tháng 01 xuống còn 2,5% tháng 6/2023), đặc biệt là những hộ chăn nuôi quy mô nhỏ.

 

Diễn biến giá lợn thịt thịt hơi xuất chuồng tại 3 miền

 

 

 

 

Giá lợn giống bắt đầu giảm từ tháng 3/2023 (giảm 100.000 đồng so với tháng 2 năm 2023), tuy nhiên sang tháng 4/2023 giá lợn giống ở miền Bắc đã tăng 150.000 – 300.000 đồng/con (biểu lợn con 6 – 9 kg), trong khi miền Nam không thay đổi so với tháng 3/2023. Giá lợn giống tháng 6/2023 tăng 100-200 nghìn so với tháng 5 dao động 1.200.0000 – 1.400.000 đồng (miền Bắc) và 1.200.000 – 1.300.000 đồng (miền Nam).

 

b) Giá sản phẩm gia cầm:

 

Đối với chăn nuôi gia cầm, phát triển đàn gia cầm trong 6 tháng đầu năm 2023 tuy có tốc độ tăng trưởng dương (+) nhưng đã giảm dần từ +3,4% xuống còn +0,9%. Đối với gà lông màu, trong 4 tháng đầu năm 2023 giá thịt gà lông màu hơi xuất chuồng chăn nuôi công nghiệp ngắn ngày khá đồng nhất giữa 3 miền, từ tháng 5 đến nay, giá biến động mạnh giữa các miền, đặc biệt giá gà lông màu miền Nam giảm mạnh trong tháng 5 và tháng 6. Nhìn chung, giá thịt gà lông màu ngắn ngày trong 6 tháng đầu năm đều thấp hơn giá thành sản xuất.

 

Diễn biến giá gà thịt lông màu nuôi công nghiệp cả 3 miền

 

 

Đối với chăn nuôi gà lông trắng giá bán sản phẩm thấp hơn giá thành sản xuất diễn ra trong suốt 6 tháng năm 2023. Giá trung bình 6 tháng đầu năm khoảng 25,9 nghìn đồng/kg trong khi giá thành sản xuất 32-35 nghìn đồng/kg. Điều này khiến doanh nghiệp hộ chăn nuôi thua lỗ triền miên. Giá các miền cũng có biến động với mức chênh lệch lớn giữa các miền từ 2,5  đến 12 nghìn đồng/kg; trong 5 tháng đầu năm, giá miền Bắc cao hơn 2 miền còn lại thì sang tháng 6 đến nay, giá gà miền Bắc thấp hơn 2 miền.

 

 

Diễn biến giá gà thịt công nghiệp lông trắng các tháng đầu năm 2023

 

 

– Giá trứng gia cầm được duy trì ổn định trong dân, có lúc thị trường dao động nhẹ do thương lái ép giá. Nhìn chung giá trứng gà trung bình 6 tháng đầu năm giữa 3 miền là 1.950 đồng/quả; giá trứng vịt trung bình 2.420 đồng/quả.

 

c) Giá nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi thành phẩm

 

Trong 06 tháng đầu năm 2023, giá ngô hạt giảm nhiều nhất (5,7%), giá DDGS giảm 3,8%; tuy nhiên, giá cám gạo chiết ly vẫn duy trì ở mức cao so với 2022 (tăng 4,7%), giá DDGS tương đương so với cùng kỳ năm 2022. Giá TACN thành phẩm đã giảm từ 1,2-3,2% so với thời điểm đầu năm 2023, tuy nhiên vẫn duy trì ở mức cao so với thời điểm trước dịch Covid-19 và so với cùng kỳ năm 2022. Dự kiến giá nguyên liệu và TACN thành phẩm sẽ tiếp tục có xu hướng giảm từ nay tới cuối năm 2023 và đầu năm 2024. Chi tiết như sau:

 

Giá một số nguyên liệu và TACN thành phẩm

 

 

STT

Nguyên liệu/TĂCN

TB 6 tháng 2022

Năm 2023

so với TB 6 tháng 2023/2022 (%)

Tháng 1/2023

Tháng 3/2023*

Tháng 6/2023

TB 6 tháng 2023

1

Ngô hạt

9.031

8.800

8.500

8.829

8.514

-5.7

2

Khô dầu đậu tương

14.716

15.800

14.400

14.906

14.760

0.3

3

Cám gạo chiết ly

5.964

8.000

5.780

5.647

6.245

4.7

4

DDGS

10.200

10.000

9.660

9.818

9.815

-3.8

5

TĂ HH lợn thịt (vỗ béo từ 60 kg trở lên)

12.648

13.550

12.340

12.527

13.386

5.8

6

TAHH gà thịt (lông màu)

12.496

13.400

12.040

13.508

13.022

4.2

7

TAHH gà thịt (lông trắng)

13.193

14.200

12.840

13.816

13.741

4.2

 
 

* Tháng 3/2023 là thời điểm giá đa số nguyên liệu và TACN thành phẩm giảm xuống mức thấp nhất trong giai đoạn vừa qua.

 

Nguồn: Cục Chăn nuôi

[1] Thức ăn cho lợn đạt 5,4 triệu tấn (chiếm khoảng 55%), thức ăn cho gia cầm đạt khoảng 4,11 triệu tấn (chiếm khoảng 41,6%), còn lại là thức ăn cho vật nuôi khác (chiếm khoảng 3,4%)

[2] Tùy thời điểm và khu vực giá hiện nay tăng từ 10.000-13.000 đồng/kg so với thời điểm thấp nhất tính từ đầu năm 2023.

 

Theo Nhà chăn nuôi.